PHỤC HỒI CHỨC NĂNG LIỆT DÂY THẦN KINH SỐ VII ( LIỆT MẶT )

Liệt dây thần kinh số VII là căn bệnh có thể xảy ra ở mọi đối tượng, không phân biệt giới tính, tuổi tác. Biểu hiện chính của bệnh là liệt nửa mặt, méo miệng. Đây là căn bệnh không gây nguy hiểm đến tính mạng nhưng có thể gây ảnh hưởng nặng
nề và để lại di chứng nếu không được điều trị đúng cách.


I. Liệt dây thần kinh số 7 là gì?
Liệt dây thần kinh số VII hay còn gọi là liệt mặt ngoại biên, là tình trạng tê bì
nửa mặt bị tổn thương kèm theo mất vận động hoàn toàn hay một phần các cơ của
nửa mặt, do tổn thương dây thần kinh mặt (liệt mặt trung ương là tổn thương liên
quan đến não). Liệt dây VII ngoại biên là là bệnh thường gặp ở mọi lứa tuổi, không
phân biệt giới tính, không lây truyền từ người này sang người khác.


Nguyên nhân gây bệnh là do liệt dây VII ngoại biên, tổn thương dây VII từ
xương thái dương trở ra còn gọi là liệt mặt Bell, thường do lạnh, hoặc do viêm.
Liệt dây thần kinh VII ngoại biên có thể do lạnh hoặc viêm.
II. CHẨN ĐOÁN:
Việc chẩn đoán liệt dây VII ngoại biên thông qua hỏi tiền sử bệnh và các triệu
chứng lâm sàng.
• Bệnh thường khởi phát đột ngột với liệt nửa mặt sau khi ngủ dậy, người bệnh
cảm giác tê bì nửa mặt, nhìn vào gương thấy liệt nửa mặt hoặc khởi phát sau
thay đổi thời tiết đột ngột.
• Dấu hiệu Charles bell: Người bệnh không nhắm kín mắt bên liệt.
Dấu hiệu Charles bell: Người bệnh không nhắm kín mắt bên liệt.
• Ở trạng thái thư giãn: Mặt người bệnh không cân xứng, bị kéo lệch về bên lành.
Mất nếp nhăn trán và nếp nhăn mũi má, mép bên liệt bị hạ thấp so với bên kia,
thức ăn chảy ra miệng ở bên liệt.
• Không mất cảm giác nửa mặt bên liệt.
Để chẩn đoán chính xác tình trạng liệt dây thần kinh số VII ngoại biên, các bác sĩ
cần khám tai mũi họng, thần kinh, chụp cộng hưởng từ và làm xét nghiệm máu để
loại trừ tổn thương do liệt dây VII trung ương và các bệnh lý khác.
Xét nghiệm máu được thực hiện để chẩn đoán bệnh.


III. TRIỆU CHỨNG KHI BỊ LIỆT DÂY THẦN KINH SỐ 7:
Biểu hiện của căn bệnh này khá rõ ràng, rất dễ để người bệnh phát hiện. Các triệu
chứng xảy ra đột ngột với các dấu hiệu:
– Mặt bị xệ, hơi cứng khác thường, miệng méo sang một bên, uống nước bị trào ra
ngoài.
– Liệt cơ khép vòng mi khiến mắt phía bên mặt bị liệt không nhắm kín được.
– Một vài trường hợp cảm thấy bị tê liệt đột ngột, yếu hẳn một bên mặt.
– Người bệnh khó cử động, khó cười nói, đau trong tai, nhức đầu.
– Mất vị giác, nước mắt, tăng lượng nước bọt trong miệng khi nói chuyện hoặc ăn
uống.
IV. ĐIỀU TRỊ LIỆT DÂY THẦN KINH SỐ VII NGOẠI BIÊN:
– Trước tiên là chỉ định điều trị nội khoa, người bệnh liệt dây thần kinh số VII sẽ
được sử dụng corticoid sớm, liều cao (1mg prednisolon /kg). Ngoài ra có thể dùng
các thuốc chống virus đặc biệt cho những trường hợp có bệnh cảnh
nhiễm virus hay đau vùng sau tai, rối loạn cảm giác vùng mặt.
– Ngoài ra, để điều trị hiệu quả liệt dây VII ngoại biên, cần kết hợp điều trị vật lý trị
liệu hoặc kích thích điện cùng với các bài tập cơ mặt sẽ mang đến hiệu quả điều trị
toàn diện cho người bệnh. Việc thăm khám và điều trị sớm sẽ giúp người bệnh hồi
phục nhanh hơn, nên điều trị ngay sau khi phát hiện bệnh.


V. PHỤC HỒI CHỨC NĂNG:
1. Nguyên tắc phục hồi chức năng và điều trị:
– Điều trị càng sớm càng tốt,người bệnh mau khỏi.
– Tránh các kích thích mạnh, không bao giờ cố điều trị cho hết liệt mặt trong giai
đoạn cấp của bệnh (vì sẽ làm trương lực cơ tăng gây co cứng).
– Kết hợp điều trị, bảo vệ mắt bị hở.
2. Các phương và kỹ thuật phục hồi chức năng:

2.1. Phục hồi chức năng giai đoạn cấp tính (từ 3 ngày – 1 tuần)
* Mục tiêu:
– Giảm tâm lý lo lắng giúp người bệnh an tâm và hợp tác trong điều trị
– Tăng tuần hoàn, phòng biến dạng mặt
– Bảo vệ mắt, chống khô mắt và viêm giác mạc
– Đảm bảo vệ sinh răng miệng.
* Phương pháp và kỹ thuật phục hồi chức năng
– Động viên, giải thích giúp người bệnh an tâm và hợp tác trong điều trị
– Dùng nhiệt ấm, xoa bóp cử động nhẹ nhàng tránh kích thích mạnh, giảm nói
cười… Dùng bằng dính chữ Y cố định ở trán – môi trên và dưới để nâng cơ mặt
khỏi sệ.
– Người bệnh nên đeo kính râm, nhỏ mắt bằng nước muối sinh lý, dùng băng dính
che mắt tạm thời để tránh bụi, dị vật gây tổn thươngmắt.
– Hướng dẫn vệ sinh răngmiệng.
2.2. Phục hồi chức năng giai đoạn bán cấp và mạn tính (sau 1 tuần)
* Mục tiêu:
– Tăng cường trương lực cơ, phục hồi cơ mặt bị teo, điều trị co cứng cơ mặt, tăng
cường tuần hoàn, tiếp tục phục hồi chức năng giao tiếp, giữ gìn vệ sinh răng
miệng.
* Phương pháp và kỹ thuật phục hồi chức năng.
– Dùng nhiệt nóng, điện xung, điện phân, xoabóp.
– Tập các cơ mặt qua các bài tập từ chủ động trợ giúp đến đề kháng.
– Hướng dẫn người bệnh tự tập qua gương: nhắm mắt huýt sáo, thổi lửa, ngậm
chặt miệng, mỉm cười, nhăn trán, phát âm những từ có âm môi: B,P,U,I,A…
– Nên để người bệnh ở phòng riêng hoặc ở góc phòng có bình phong, ngăn cách
với người bệnh khác để người bệnh khỏi ngượng ngùng, kém tập trung.


VI. THEO DÕI VÀ TÁI KHÁM:
Cần thăm khám định kỳ cho đến khi hết triệu chứng để đánh giá kết quả điều
trị, điều chỉnh phương pháp điều trị nếu cần và để phát hiện các biến chứng của
liệt mặt.
PHÒNG KHÁM PHỤC HỒI CHỨC NĂNG VĨNH ĐỨC

🔰 363 Lê Trọng Tấn, P.Sơn Kỳ, Q.Tân Phú, TP.HCM. ☎ 0918 45 43 47