Phục hồi chức năng cho trẻ bị bại não.

I KHÁI NIỆM:

Bại não là một loại khuyết tật ảnh hưởng lên sự vận động, tâm thần, giác quan và hành vi của trẻ. Bại não xảy ra do tổn thương não của trẻ trước khi sinh,trong khi sinh và cả sau khi sinh. Không phải toàn bộ não tổn thương mà chỉ một phần của não.

 

Khi phần não đã bị tổn thương thì không bao giờ phục hồi lại được nữa,chúng cũng không trở nên xấu hơn.

Tuy nhiên các vấn đề liên quan đến trẻ có thể sẽ được cải thiện hoặc trở nên xấu hơn phụ thuộc vào việc chúng ta xử trí tình trạng của trẻ như thế nào. Chúng ta càng bắt đầu việc điều trị tình trạng của trẻ sớm bao nhiêu thì tình trạng của trẻ sẽ càng được cải thiện hơn bấy nhiêu.

II NGUYÊN NHÂN GÂY BẠI NÃO:

  Nguyên nhân trước khi sinh

    Bao gồm dị tật phôi não, não úng thủy bẩm sinh, người mẹ bị nhiễm trùng trong thời kỳ đầu mang thai (đặc biệt là nhiễm trùng virus), suy dinh dưỡng nghiêm trọng, chấn thương bên ngoài, trúng độc (nhiễm độc thai nghén) và chiếu tia phóng xạ... Mẹ bị bệnh động kinh, trước khi mang thai bị cường giáp, có tiền sử hút thuốc lá, hoặc số lần bị thai chết lưu hơn hai lần, thì tỷ lệ sinh con mắc bệnh bại não sẽ tăng cao.

    Nghiên cứu gần đây cho thấy, nhân tố di truyền là một trong những nguyên nhân gây bại não. 65% người thân của bệnh nhân bại não có tiền sử bị động kinh, bại não và thiểu năng.

  Nguyên nhân trong thai kỳ

    Phân tích bệnh án: Sinh non là một trong những nguyên nhân gây bệnh bại não. Hàng năm, tại Mỹ có khoảng 50.000 trẻ sinh non cân nặng chưa đạt đến 1500g, 85% trong số những trẻ còn sống thì có khoảng 5%~15% bị mắc bệnh bại não, 25%~30% mắc chứng rối loạn tâm thần ở độ tuổi đi học.

    Ngoài ra, khó sinh, thời gian sinh quá dài, dây rốn quấn cổ, cuống rốn rụng sớm, nhau tiền đạo, tắc nước ối và hội chứng hít phân su... dẫn đến tình trạng thiếu oxy cho não của thai nhi, ngạt thở, trẻ quá to hoặc trẻ thiếu cân, sinh non chưa phát triển đầy đủ, bị thương khi sinh đều là một trong những nhân tố gây bệnh bại não.

  Nguyên nhân sau khi sinh

    Bao gồm nhiễm trùng, chấn thương bên ngoài, trúng độc, xuất huyết nội sọ và ngạt nặng. Trẻ mới sinh bị co giật, trẻ có cân nặng dưới 2500g cần phải được chăm sóc đặc biệt, trẻ ở trạng thái bị ức chế là những nhân tố gây nên bệnh bại não. Hội chứng suy hô hấp ở trẻ sơ sinh, viêm phổi hít, viêm màng não, mất nước, vàng da, tụ máu nội sọ, nhiễm trùng máu dẫn đến tình trạng bị sốc, xẹp phổi khiến cho não thiếu oxy, bilirubin trong huyết thanh cao hơn 16mg/dl có mối liên quan mật thiết đến bệnh bại não, đặc biệt là trẻ trong giai đoạn mới sinh mà sử dụng kháng sinh toàn thân thì tỷ lệ mặc bại não tương đối cao.

III DẤU HIỆU NHẬN BIẾT SỚM TRẺ BẠI NÃO:

  • Lúc sinh trẻ thường có vẻ mềm rũ.
  • Trẻ đẻ ra không khóc ngay hoặc khóc yếu, tím tái, da trẻ tím và người trẻ mềm rũ ra.
  • Trẻ chậm phát triển hơn so với các trẻ cùng lứa.Trẻ chậm biết ngẩng đầu lên, chậm biết ngồi hoặc chậm biết đi.
  • Trẻ có thể không sử dụng hai bàn tay hoặc chỉ sử dụng được một bàn tay.
  • Trẻ gặp khó khăn khi bú, nuốt hoặc nhai.
  • Trẻ thường bị nghẹt thở, nghẹn khi ăn hoặc bú. Ngay cả khi trẻ đã lớn hơn tình trạng này cũng vẫn cứ tiếp diễn.
  • Khó khăn khi chăm sóc trẻ. Thấy khó khi bế ẵm, tắm rửa hay thay quần áo vì trẻ cứng đờ hay ưỡn mạnh ra sau. Khi trẻ lớn hơn trẻm không học được cách tự ăn hoặc từ mặc quần áo,đi vệ sinh hoặc chơi với các trẻ khác.
  • Trẻ gặp khó khăn trong giao tiếp: không đáp ứng hoặc hành động như trẻ bình thường.

IV PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ:

  1. Vận động thụ động, trợ giúp.
  2. Tạo thuận lăn lật.
  3. Tạo thuận kiểm soát tư thế quỳ.
  4. Tạo thuận kiểm soát đầu cổ.
  5. Tạo thuận kiểm soát chân và ngồi.
  6. Phát triển, tư thế thăng bằng, chỉnh thế, tự vệ.